MORTGAGE-BACKED SECURITY & CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ 2007-2008

Mortgage-backed security là gì?

Mortgage-backed security (chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp) là loại chứng khoán được phát hành dựa trên cơ sở một hoặc một nhóm các khoản thế chấp. Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp (MBS) biến ngân hàng thành trung gian giữa người vay và nhà đầu tư: ngân hàng cung cấp tiền cho người đi vay và sau đó bán khoản tín dụng đó dưới dạng trái phiếu. Đáng chú ý, các chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp này có thể được giao dịch mà không cần sự tham gia của bên thứ ba ngoài hai bên mua và bán.

Ví dụ, công ty X kinh doanh địa ốc có 1 tòa văn phòng cho thuê trị giá 90 triệu USD. Để thực hiện một dự án xây chung cư, công ty này cần vay thêm 60 triệu USD. Họ quyết định tìm đến ngân hàng Y, thế chấp tòa văn phòng để vay 60 triệu USD trong 5 năm, thanh toán tiền gốc và tiền lãi hàng tháng với lãi suất 1%. Tuy nhiên, tình hình tài chính của ngân hàng Y hiện đang “mấp mé” hạn mức tín dụng cho phép nên không thể cho vay thêm, nhưng ngân hàng cũng không muốn mất khách. Vì vậy, ngân hàng quyết định phát hành 60.000 trái phiếu được đảm bảo bằng khoản thế chấp của công ty X, với kỳ hạn 5 năm. Thay vì được thanh toán tiền gốc và lãi như thông thường, người nắm giữ những trái phiếu này sẽ được hưởng số tiền mà công ty X thanh toán cho ngân hàng tùy theo số trái phiếu mà anh ta có. Giả dụ, một quỹ đầu tư mua 6000 (10%) trái phiếu, thì mỗi tháng họ sẽ được hưởng: 10% x [(60.000.000/5/12) + 1%x (số tiền còn nợ)].

Đầu tư vào MBS ẩn chứa rất nhiều rủi ro do tiềm ẩn nguy cơ vỡ nợ của người đi vay. Nếu vỡ nợ xảy ra, bên cho vay không những không nhận được bất kỳ khoản tiền lãi nào mà còn bị mất chi phí, cơ hội đầu tư và các khoản tiền liên quan đến pháp lý. Đây cũng chính là mầm mống cho cuộc đại khủng hoảng tài chính Mỹ giai đoạn 2007-2008 và sau này lan rộng ra toàn thế giới.

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2008

Các MBS này được gom lại, tổng hợp để tạo thành một CDO (Collateralized debt obligation – nghĩa vụ nợ thế chấp). CDO được các công ty dịch vụ tài chính lớn nhất nước Mỹ đánh giá như: Standard & Poor, Moody’s, Fitch Ratings. Tuy nhiên, để cạnh tranh với công ty khác và giữ được khách hàng, các công ty không đánh giá CDO đúng với bản chất của nó. Khi ấy, nhà đầu tư không còn biết đằng sau CDO mình nắm giữ thực sự là tài sản gì và ai là người nợ tiền mình, tất cả chỉ thể hiện qua con số xếp hạng tín dụng an toàn và khoản tiền lợi nhuận khủng khiếp.

Dần dần, khi đến ngày đáo hạn, người đi vay không có khả năng trả nợ đi vay thêm khoản nợ mới để trang trải cho khoản nợ cũ. Nợ chồng nợ, khả năng vay nợ mới cũng trở nên khó khăn hơn bởi lãi suất tăng dần. Tỷ lệ nợ không thanh toán (delinquency rates) đã lên đến mức kỷ lục tại Mỹ vào cuối năm 2006, đầu 2007. Đơn cử năm 2007, tỷ lệ tín dụng bất động sản không được thanh toán lên tới 15%, tổng cộng hơn 1 triệu khoản vay thế chấp đã không được thanh toán.

Nợ chồng nợ, nguy cơ bị phá sản cao khiến rất nhiều khách hàng vay tín dụng buộc phải gán nhà để trả nợ. Hàng loạt các tài sản bị tịch biên đó được đem ra bán và khiến giá trên thị trường bất động sản càng thêm sụt giảm. Tỷ lệ nhà bị tịch biên (foreclosure rates) gia tăng, tỷ lệ thuận với tỷ lệ nợ không thanh toán. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn và cuối cùng, bong bóng bất động sản nổ tung. Có rất nhiều công ty khổng lồ đã phải giải thể, phá sản hay phải nhờ đến sự giúp đỡ của Chính phủ. Các công ty lớn phá sản, gây thất nghiệp hàng loạt, khiến xã hội càng không có tiền để trả lãi vay nợ hàng tháng từ các khoản vay dưới chuẩn.

Tại Mỹ, hơn 8 triệu người mất việc làm, xấp xỉ 2,5 triệu doanh nghiệp phá sản và có tới gần 4 triệu ngôi nhà bị thu hồi trong vòng 2 năm. Bất ổn về an ninh lương thực cùng với sự mất cân bằng thu nhập làm cho nhiều người cảm thấy mất niềm tin vào cơ chế. Cuộc suy thoái được công bố là chính thức kết thúc vào năm 2009, nhưng trong một thời gian dài sau đó, nhiều người dân vẫn phải chịu những hậu quả nặng nề, đặc biệt là tại Mỹ. Tỷ lệ thất nghiệp đạt mức 10% vào năm 2009, và chỉ mới trở lại mức như trước khủng hoảng vào năm 2016 vừa qua.

Kết cục của những cơn sốt chứng khoán này rất khó đoán đối với nhà đầu tư F0, thậm chí, các chuyên gia trong ngành cũng có thể mắc sai lầm khi bị lợi nhuận che mờ mắt. Tuy nhiên, hãy bình tĩnh và hết sức cẩn thận bởi nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffet đã từng nói: “Hãy sợ hãi khi người khác tham lam và hãy tham lam khi người khác sợ hãi“.